Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

SIÊU ÂM BÌU VÔ SINH









THE ULTRASOUND JOURNAL 2026; VOL. 18:18307 DOI: 10.5826/TUJ.2026.18307
ORIGINAL RESEARCH PAPERS MATTIOLI 1885
Establishing reference values and evaluating diagnostic utility of scrotal ultrasound for azoospermia subtypes: A cross-sectional study in Guangdong, China
HERAN CAO¹,# *, ZHIXING ZHANG¹³#, LU HAN¹4, HUA NIE¹², XIAOHUA LIU¹², WEIBING QIN¹¹² 'NHC Key Laboratory of Male Reproduction and Genetics, Guangdong Provincial Reproductive Science Institute (Guangdong)


TẠP CHÍ SIÊU ÂM 2026; TẬP 18:18307 DOI: 10.5826/TUJ.2026.18307 BÀI NGHIÊN CỨU GỐC MATTIOLI 1885
 
Thiết lập giá trị tham chiếu và đánh giá tiện ích chẩn đoán của siêu âm bìu đối với các phân loại vô tinh: Một nghiên cứu cắt ngang tại Quảng Đông, Trung Quốc


HERAN CAO¹,# *, ZHIXING ZHANG¹³#, LU HAN¹4, HUA NIE¹², XIAOHUA LIU¹², WEIBING QIN¹¹² 1Phòng thí nghiệm trọng điểm NHC về Sinh sản và Di truyền Nam giới, Viện Khoa học Sinh sản tỉnh Quảng Đông (Bệnh viện Sinh sản tỉnh Quảng Đông), Quảng Châu 510600, Trung Quốc; 2Khoa Phòng thí nghiệm Trung tâm, Viện Khoa học Sinh sản tỉnh Quảng Đông (Bệnh viện Sinh sản tỉnh Quảng Đông), Quảng Châu, Trung Quốc; Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Viện Khoa học Sinh sản tỉnh Quảng Đông (Bệnh viện Sinh sản tỉnh Quảng Đông), Quảng Châu, Trung Quốc; Khoa Giáo dục Y khoa, Viện Khoa học Sinh sản tỉnh Quảng Đông (Bệnh viện Sinh sản tỉnh Quảng Đông), Quảng Châu, Trung Quốc. "Các tác giả này đóng góp như nhau vào công trình này.


TÓM TẮT
Bối cảnh: Vô sinh nam là một vấn đề sức khỏe quan trọng ở Đông Á, ảnh hưởng đến hơn 12 triệu nam giới, chủ yếu do vô tinh không tắc nghẽn và tắc nghẽn. Mặc dù siêu âm Doppler màu bìu được sử dụng rộng rãi để đánh giá sức khỏe sinh sản nam giới, nhưng các tiêu chuẩn chẩn đoán hiện có được lấy từ các quần thể châu Âu vẫn chưa được xác thực đối với nam giới Trung Quốc. Nghiên cứu này nhằm mục đích thiết lập các giá trị tham chiếu đặc thù cho từng quần thể và đánh giá tiện ích chẩn đoán của các thông số siêu âm trong việc phân biệt các phân loại vô tinh.


Phương pháp: Chúng tôi đã tuyển chọn 424 nam giới từ 20-45 tuổi, bao gồm 245 người có tinh trùng bình thường, 135 người bị vô tinh không tắc nghẽn và 44 người bị vô tinh tắc nghẽn từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tất cả những người tham gia đều được siêu âm bìu theo các giao thức tiêu chuẩn để đo thể tích tinh hoàn, kích thước mào tinh và các thông số huyết động. Phân tích tinh dịch và hồ sơ hormone cũng được thực hiện.


Kết quả: Kết quả cho thấy thể tích tinh hoàn Thể tích tinh hoàn ở nam giới khỏe mạnh từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc nhỏ hơn đáng kể so với giá trị tham chiếu ở châu Âu. Thể tích tinh hoàn tỷ lệ nghịch với nồng độ hormone kích thích nang trứng (FSH) và hormone tạo hoàng thể (LH), tỷ lệ thuận với số lượng và nồng độ tinh trùng, nhưng không tỷ lệ nghịch với các yếu tố khác.








Data acquisition and ultrasound imaging
protocol


Scrotal color Doppler ultrasound (CDUS) was
performed using a GE Voluson E8 system equipped
with a 4-16 MHz linear transducer, following standardized protocols aligned with the European Academy of Andrology (EAA) recommendations. All examinations were conducted with participants in the supine position after even application of coupling gel to the scrotal skin; the probe was placed gently to avoid tissue deformation.
The imaging protocol included comprehensive as-
sessment of testicular and epididymal parameters. Testicular measurements encompassed three orthogonal dimensions: length (L), width (W), and height (H), all recorded in centimeters (cm). Testicular volume (V, in milliliters) was calculated using the following formulas:


Siêu âm Doppler màu (CDUS) vùng bìu được thực hiện bằng hệ thống GE Voluson E8 trang bị đầu dò thẳng tần số 4-16 MHz, tuân theo các quy trình chuẩn hóa phù hợp với khuyến nghị của Hiệp hội Nam khoa Châu Âu (EAA). Tất cả các ca thăm khám được thực hiện khi người tham gia ở tư thế nằm ngửa và đã được bôi đều gel dẫn âm lên da vùng bìu; đầu dò được đặt nhẹ để tránh làm biến dạng mô. Quy trình chẩn đoán hình ảnh bao gồm việc đánh giá toàn diện các thông số của tinh hoàn và mào tinh hoàn. Các số đo tinh hoàn bao gồm ba kích thước vuông góc: chiều dài (L), chiều rộng (W) và chiều cao (H), tất cả đều được ghi nhận theo đơn vị centimet (cm). Thể tích tinh hoàn (V, tính bằng mililit) được tính toán dựa trên các công thức sau:

The Ellipsoid formula: V = L × W × H ×0.52;
The Lambert formula: V = L × W × H × 0.71;
The Hansen formula: V = L × W × H × 0.52 (The Hansen formula, as implemented in our study, used the maximal dimensions and a constant of 0.52).


Epididymal evaluation followed a segmental measurement protocol: the caput was assessed by measuring the head-to-base distance in the maximal longitudinal section, while the corpus and cauda were evaluated on the same longitudinal plane by recording their anteroposterior
diameters.


Hemodynamic parameters, including peak systolic velocity and resistive index, were also systematically recorded. To ensure measurement consistency and diagnostic reliability, all examinations wereconducted by two experienced sonographers blinded to group assignment. Prior to study commencement, both operators underwent joint training sessions on standardized EAA operating procedures. Throughout the data collection period, they performed periodic
simultaneous scans and measurement comparisons on initial cases to calibrate techniques and establish consensus on anatomical landmarks. All images were independently analyzed, with any discrepancies resolved through consensus review or consultation with a senior andrologist.
Complementary assessments included semen
analysis performed according to WHO 2021 guide-
lines (evaluating volume, pH, concentration, motility, and morphology) and serum hormone measurements (FSH, LH, and testosterone) via electrochemiluminescence immunoassay, ensuring comprehensive multimodal evaluation of reproductive parameters.


Công thức Hansen, được áp dụng trong nghiên cứu , sử dụng các kích thước tối đa và một hằng số là 0,52. 

Việc đánh giá mào tinh hoàn tuân theo quy trình đo đạc theo từng đoạn: phần đầu mào tinh (caput) được đánh giá bằng cách đo khoảng cách từ đỉnh đến đáy trên mặt cắt dọc có kích thước lớn nhất, trong khi phần thân (corpus) và phần đuôi (cauda) được đánh giá trên cùng mặt phẳng dọc đó bằng cách ghi lại đường kính trước-sau của chúng. 

Các thông số huyết động, bao gồm vận tốc tâm thu đỉnh và chỉ số trơ kháng, cũng được ghi nhận một cách hệ thống. Để đảm bảo tính nhất quán trong đo đạc và độ tin cậy của chẩn đoán, tất cả các ca thăm khám đều được thực hiện bởi hai chuyên gia siêu âm giàu kinh nghiệm, không biết thông tin về việc phân nhóm nghiên cứu. Trước khi bắt đầu nghiên cứu, cả hai người thực hiện đã tham gia các buổi đào tạo chung về quy trình vận hành siêu âm mào tinh hoàn (EAA)  chuẩn hóa. Trong suốt giai đoạn thu thập dữ liệu, họ đã thực hiện định kỳ các ca siêu âm đồng thời và so sánh kết quả đo đạc trên các ca bệnh ban đầu để hiệu chỉnh kỹ thuật và thống nhất về các mốc giải phẫu. Tất cả hình ảnh đều được phân tích độc lập; mọi sự khác biệt đều được giải quyết thông qua việc xem xét thống nhất hoặc tham vấn ý kiến ​​của một chuyên gia nam học cấp cao. 

Các đánh giá bổ sung bao gồm phân tích tinh dịch đồ theo hướng dẫn của WHO năm 2021 (đánh giá thể tích, pH, mật độ, độ di động và hình thái) và đo nồng độ hormone huyết thanh (FSH, LH và testosterone) bằng phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA), nhằm đảm bảo đánh giá toàn diện và đa phương thức các thông số sinh sản.

KẾT LUÂN

Nghiên cứu đã thiết lập các giá trị tham chiếu chuẩn hóa bằng siêu âm Doppler màu (CDUS) vùng bìu cho các chỉ số của tinh hoàn và mào tinh hoàn trên một nhóm nam giới Trung Quốc có khả năng sinh sản tại tỉnh Quảng Đông.

Kết quả cho thấy thể tích tinh hoàn và kích thước mào tinh hoàn ở nhóm này nhỏ hơn đáng kể so với các tiêu chuẩn hiện hành của châu Âu; điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng các tiêu chí chẩn đoán đặc thù cho từng quần thể nhằm tránh sai lệch trong phân loại bệnh. Mối tương quan nghịch đáng kể giữa thể tích tinh hoàn và nồng độ FSH/LH trong huyết thanh củng cố vai trò của chỉ số này như một dấu ấn sinh học đáng tin cậy, không xâm lấn để đánh giá chức năng ống sinh tinh và sự toàn vẹn của trục hạ đồi - tuyến yên - tinh hoàn.

Hơn nữa, nghiên cứu đã xác định mối liên hệ giữa thể tích tinh hoàn và đường kính phần đầu mào tinh hoàn trong việc phân biệt các thể bệnh vô tinh, cụ thể là tình trạng giảm đáng kể thể tích tinh hoàn ở nhóm vô tinh không do tắc nghẽn (NOA) và giãn rộng phần đầu mào tinh hoàn ở nhóm vô tinh do tắc nghẽn (OA). Những phát hiện dựa trên kỹ thuật CDUS này có thể giúp giảm bớt sự phụ thuộc vào các thủ thuật chẩn đoán xâm lấn như sinh thiết tinh hoàn, mang lại giá trị lâm sàng tiềm năng, đặc biệt là trong việc tránh các can thiệp không cần thiết đối với bệnh nhân OA. Công trình này cung cấp các giá trị tham chiếu đặc thù quan trọng để hoàn thiện quy trình đánh giá vô sinh nam ở quần thể người Trung Quốc tại tỉnh Quảng Đông, đồng thời chứng minh vai trò ngày càng quan trọng của CDUS trong thực hành nam học.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

Viêm gan và Gan mỡ có gây đau cơ khớp không


Viêm gan và gan nhiễm mỡ đều có liên quan đến tình trạng đau cơ khớp, nhưng cơ chế và nguyên nhân ở hai nhóm bệnh này hoàn toàn khác nhau.

1. Viêm gan (Hepatitis) – Tác nhân trực tiếp

Viêm gan (đặc biệt là viêm gan siêu vi B, C hoặc viêm gan tự miễn) thường gây ra đau cơ và đau khớp:

Phản ứng miễn dịch: Khi virus xâm nhập, hệ miễn dịch sản sinh ra các phức hợp miễn dịch để chống lại virus. Các phức hợp này di chuyển trong máu và có thể lắng đọng tại màng khớp hoặc các mô cơ, gây viêm, sưng và đau.

Biểu hiện ngoài gan: Đau khớp (arthralgia) và đau cơ (myalgia) là những triệu chứng ngoài gan rất phổ biến ở bệnh nhân viêm gan B và C mạn tính. Đôi khi triệu chứng đau khớp xuất hiện trước khi phát hiện vàng da hay mệt mỏi.

Đợt viêm cấp tính: Ở giai đoạn cấp, người bệnh thường có cảm giác đau nhức mình mẩy, mỏi cơ tương tự như khi bị cúm nặng.


Viêm gan virus chẳng hạn như virus viêm gan C (HCV) có thể gây ra đau khớp và cơ bắp.

Khoảng 38% người nhiễm HCV mắc các rối loạn về khớp và cơ. Những triệu chứng này có thể phát sinh khi hệ miễn dịch chống lại virus.

Với HCV, virus nhân lên liên tục. Điều này có nghĩa là hệ thống miễn dịch phải làm việc quá sức để chống lại nhiễm trùng, làm viêm lan rộng, dẫn đến các khớp và cơ bị viêm và đau.

Một số loại thuốc điều trị viêm gan C, chẳng hạn như peginterferon, cũng có tác dụng phụ 
gây đau khớp.

2. Gan nhiễm mỡ (Fatty liver) – Tác nhân gián tiếp

Bản thân mỡ tích tụ trong gan hiếm khi trực tiếp gây đau khớp. Tuy nhiên, gan nhiễm mỡ thường nằm trong hội chứng chuyển hóa, kéo theo các yếu tố gây đau cơ khớp:

Tăng Acid Uric và Bệnh Gút (Gout): Rối loạn chuyển hóa ở người gan nhiễm mỡ rất hay đi kèm với tăng acid uric máu. Khi các tinh thể urat lắng đọng tại khớp sẽ gây ra các đợt viêm khớp gút cấp tính (sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội ở ngón chân, cổ chân, gối).

Viêm mạn tính mức độ thấp: Gan nhiễm mỡ kích thích cơ thể giải phóng các chất gây viêm (cytokine) vào máu, làm tăng cảm giác đau mỏi cơ thể và ê ẩm các khớp.

Thừa cân, béo phì: Nhiều trường hợp gan nhiễm mỡ có đi kèm tăng cân, tạo áp lực cơ học lớn lên các khớp chịu lực như khớp gối, khớp háng và cột sống thắt lưng.

Thiếu hụt Vitamin D: Người bị rối loạn chuyển hóa mỡ thường có nguy cơ thiếu Vitamin D cao hơn, dẫn đến đau mỏi xương khớp và yếu cơ.


MASLD

Bệnh gan nhiễm mỡ (MASLD) xảy ra khi chất béo tích tụ trong các tế bào gan mà không do lạm dụng rượu.

Trong bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASL), trước đây gọi là gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFL), các chất béo tích tụ nhìn chung khá vô hại.

Tuy nhiên, MASL có thể tiến triển thành viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASH), trước đây gọi là viêm gan nhiễm mỡ không do rượu , tức là viêm gan. Đây là một bệnh lý dạng tiến triển của MASLD, vì có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan.

Khoảng 24% người trưởng thành ở Mỹ mắc MASLD. Tình trạng này có liên quan đến viêm khớp dạng thấp (RA).

Bệnh nhiễm sắc tố sắt

Trong bệnh nhiễm sắc tố sắt, sắt tích tụ đến mức gây hại. Nếu không được điều trị, nó có thể gây tổn thương gan, tim, các cơ quan khác và khớp.

Người mắc bệnh nhiễm sắc tố sắt cảm thấy yếu ớt và đau khớp, đặc biệt là ở đầu gối và bàn tay. Họ cũng có thể bị đau bụng ở vùng gan và sạm da. Trong trường hợp nặng, người bệnh có thể bị xơ gan.

                                    oOOo

Đôi khi, chính bệnh gan không phải là nguyên nhân gây đau khớp hoặc đau cơ. Thay vào đó, cơn đau có thể do một bệnh lý khác gây ra. Bệnh lý này có thể là nguyên nhân gây viêm gan hoặc xảy ra đồng thời với viêm gan.

Viêm khớp dạng thấp

RA là một bệnh tự miễn mãn tính chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp. Bệnh xảy ra khi hệ thống miễn dịch tấn công nhầm lẫnNguồn đáng tin cậy các lớp lót khớp bị tổn thương, gây viêm, gây sưng tấy, đau nhức và cứng khớp.

Bệnh vảy nến và viêm khớp vảy nến

Bệnh vảy nến gây ra các mảng da có vảy và ngứa. Hầu như 20% số người bị bệnh vảy nến có thể mắc viêm khớp vảy nến (PsA), gây đau và cứng khớp, cùng với các triệu chứng khác.

Những người mắc bệnh vảy nến có nguy cơ cao mắc MASLD và tổn thương gan. Bệnh vảy nến và viêm khớp vảy nến có liên quan đến béo phì, tiểu đường và hội chứng chuyển hóa, là các yếu tố nguy cơ gây ra MASLD.

Bệnh lupus

Bệnh lupus là một bệnh tự miễn mãn tính có thể ảnh hưởng đến nhiều bộ phận khác nhau của cơ thể, bao gồm khớp, da và các cơ quan nội tạng.

Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch tấn công nhầm vào các mô khỏe mạnh, làm viêm và đau khớp và cơ, cũng như các bộ phận khác của cơ thể.

Có đến 23% người mắc bệnh lupus phát triển viêm gan và có men gan bất thường .

Bệnh gout


Bệnh gút là một dạng viêm khớp gây ra các cơn đau và sưng khớp đột ngột, dữ dội 
khi lượng acid uric trong máu quá cao. Acid uric tạo thành các tinh thể trong khớp, gây đau và viêm.

Một số nghiên cứu cho thấy những người có nồng độ acid uric cao có nguy cơ bị tăng men gan cao, rối loạn chức năng gan.


Tóm tắt

Đau khớp và đau cơ là những triệu chứng hoặc biến chứng thường gặp của bệnh gan. Cơn đau có thể do hệ miễn dịch chống lại nhiễm trùng, chẳng hạn như trong viêm gan virus.

Đau khớp cũng có thể là tác dụng phụ của thuốc hoặc là hậu quả của các bệnh lý có liên quan đến bệnh gan, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp, lupus, gout, vảy nến.